• 40/9/8 Trần Văn Quang, Phường 10, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
  • 0913.849.072

Quản trị và tuân thủ pháp luật

Điều kiện và đối tượng hưởng trợ cấp tuất một lần?

By vietseo Ngày đăng: 20
Không phải mọi trường hợp người lao động qua đời đều dẫn đến việc thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần, mà việc hưởng chế độ này phụ thuộc vào điều kiện tham gia bảo hiểm xã hội của người đã mất cũng như đối tượng thân nhân đủ điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật.

Do đó, vấn đề điều kiện và đối tượng hưởng trợ cấp tuất một lần luôn được nhiều người lao động và gia đình quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh các quy định về bảo hiểm xã hội liên tục được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm quyền lợi an sinh xã hội một cách toàn diện và phù hợp với thực tiễn.

Trong hệ thống an sinh xã hội, chế độ tử tuất giữ vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện tính nhân văn sâu sắc của Nhà nước đối với người lao động và thân nhân của họ khi không may xảy ra rủi ro về tính mạng. Khi người lao động qua đời, không chỉ để lại mất mát to lớn về tinh thần mà còn kéo theo nhiều khó khăn về kinh tế cho gia đình, đặc biệt là những người phụ thuộc. Nhằm góp phần chia sẻ gánh nặng đó, pháp luật về bảo hiểm xã hội đã quy định chế độ trợ cấp tuất một lần như một khoản hỗ trợ tài chính thiết thực, giúp thân nhân người đã mất ổn định cuộc sống trong giai đoạn đầu. Việc hiểu rõ điều kiện và đối tượng được hưởng trợ cấp tuất một lần không chỉ giúp bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân, mà còn nâng cao ý thức tham gia bảo hiểm xã hội, góp phần củng cố nền tảng an sinh bền vững cho toàn xã hội

1. Thân nhân là gì?

Theo khoản 7 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2024 (Luật 2024)quy định như sau:

7. Thân nhân là con đẻ, con nuôi, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng của người tham gia bảo hiểm xã hội hoặc thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. phân tích thành văn Thân nhân là con đẻ, con nuôi, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng của người tham gia bảo hiểm xã hội hoặc thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Quy định này xác định phạm vi “thân nhân” của người tham gia bảo hiểm xã hội, làm căn cứ để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội liên quan đến thân nhân, đặc biệt là chế độ trợ cấp tuất, mai táng và các quyền lợi phát sinh khi người tham gia bảo hiểm xã hội chết. Việc liệt kê cụ thể các đối tượng nhằm bảo đảm xác định đúng người có quyền và tránh tranh chấp trong quá trình giải quyết chế độ.

Theo đó, thân nhân bao gồm những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng trực tiếp với người tham gia bảo hiểm xã hội, như: con đẻ, con nuôi; vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi; cha vợ hoặc cha chồng; mẹ vợ hoặc mẹ chồng. Đây là những quan hệ gia đình gần gũi, gắn bó chặt chẽ về mặt pháp lý và thực tế, thường chịu ảnh hưởng trực tiếp về kinh tế và tinh thần khi người lao động gặp rủi ro hoặc qua đời.

Bên cạnh đó, quy định còn mở rộng phạm vi thân nhân đối với thành viên khác trong gia đình với điều kiện người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Cách quy định này thể hiện tính linh hoạt và nhân văn của chính sách bảo hiểm xã hội, bảo đảm quyền lợi cho những người thực sự phụ thuộc vào người lao động về mặt kinh tế, dù không thuộc nhóm quan hệ thân thích trực hệ, qua đó góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho gia đình người tham gia bảo hiểm xã hội.

2. Những ai thuộc đối tượng hưởng trợ cấp tuất một lần

2.1. Thân nhân

Hệ thống thân nhân được phân chia dựa trên mối quan hệ gần gũi nhất với người lao động, bao gồm các nhóm chính sau đây:

  • Nhóm con cái: Bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú được pháp luật công nhận, và cả trường hợp con được sinh ra sau khi người cha chết. Điều này thể hiện sự bảo vệ đặc biệt đối với quyền lợi của trẻ em, không phân biệt nguồn gốc sinh ra.
  • Nhóm vợ hoặc chồng: Là người có quan hệ hôn nhân hợp pháp với người lao động tại thời điểm người đó qua đời.
  • Nhóm cha mẹ: Bao gồm cha đẻ, mẹ đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.
  • Nhóm cha mẹ bên vợ/chồng: Cha đẻ và mẹ đẻ của vợ hoặc của chồng người lao động, thể hiện sự mở rộng phạm vi an sinh đến cả gia đình bên phối ngẫu.
  • Nhóm người có trách nhiệm nuôi dưỡng: Đây là một quy định mở, bao quát các trường hợp người lao động trực tiếp chăm sóc, cấp dưỡng theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau nếu họ thực sự phụ thuộc vào thu nhập của người quá cố.

2.2. Trường hợp người lao động không có thân nhân

Một trong những điểm mới mang tính nhân văn và chặt chẽ về mặt pháp lý của Luật 2024 là việc xử lý các trường hợp "trống" thân nhân. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 88, nếu người lao động khi qua đời không có bất kỳ thân nhân nào thuộc các nhóm nêu trên, thì khoản trợ cấp tuất một lần sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Quy định này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì nó chuyển hóa quyền hưởng bảo hiểm xã hội thành một loại di sản thừa kế. Điều này có nghĩa là số tiền đóng góp của người lao động sẽ không bị sung công quỹ mà sẽ được chuyển cho những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật (như anh, chị, em ruột, ông bà nội ngoại...) theo các hàng thừa kế quy định trong Bộ luật Dân sự. Điều này đảm bảo tính minh bạch và công bằng tuyệt đối đối với tài sản tích lũy của người lao động.

3. Điều kiện hưởng trợ cấp tuất một lần?

3.1. Đối tượng làm phát sinh chế độ trợ cấp một lần

Theo khoản 1 điều 88 Luật bảo hiểm xã hội 2024, đối tượng khi chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân của họ được xem xét giải quyết chế độ trợ cấp tuất một lần theo pháp luật về bảo hiểm xã hội. Việc đưa ra danh sách cụ thể các đối tượng không chỉ giúp cơ quan bảo hiểm xã hội áp dụng thống nhất, mà còn bảo đảm quyền lợi an sinh cho gia đình người lao động khi xảy ra rủi ro về tính mạng. Điểm đáng chú ý là pháp luật thừa nhận cả trường hợp chết trên thực tế và trường hợp chết về mặt pháp lý (bị Tòa án tuyên bố là đã chết), qua đó tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để thân nhân được hưởng chế độ mà không bị gián đoạn do khó khăn trong việc xác định tình trạng nhân thân.

Thứ nhất, người đang tham gia bảo hiểm xã hội hoặc đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội

Đây là nhóm đối tượng trực tiếp gắn với quá trình đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội. Đối với người đang tham gia, việc chết trong thời gian còn quan hệ bảo hiểm cho thấy rủi ro xảy ra khi quyền và nghĩa vụ bảo hiểm xã hội vẫn đang tồn tại, do đó thân nhân đương nhiên được xem xét hưởng chế độ tuất. Đối với người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, mặc dù họ đã chấm dứt quan hệ lao động và chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu, nhưng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội vẫn được pháp luật bảo lưu và ghi nhận. Vì vậy, khi người này chết, quyền lợi tuất vẫn được phát sinh trên cơ sở thời gian đã đóng, bảo đảm nguyên tắc đóng – hưởng và không làm mất quyền lợi của gia đình người lao động.

Thứ hai, người đang hưởng hoặc đang tạm dừng hưởng lương hưu, cũng như người đang hưởng hoặc đang tạm dừng hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng và đã nghỉ việc

Đây là nhóm đối tượng đã hoặc đang được thụ hưởng các chế độ dài hạn của bảo hiểm xã hội. Việc pháp luật quy định bao gồm cả trường hợp “đang tạm dừng hưởng” có ý nghĩa rất quan trọng, bởi trong thực tế việc tạm dừng chi trả có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan như chưa hoàn tất thủ tục, thay đổi nơi cư trú, hoặc thuộc trường hợp pháp luật cho phép tạm dừng chi trả. Dù việc chi trả bị gián đoạn, tư cách hưởng chế độ của người lao động vẫn còn, nên khi họ chết, thân nhân vẫn được xem xét giải quyết trợ cấp tuất một lần. Cách quy định này thể hiện tính nhân văn và bảo đảm liên tục quyền lợi, tránh tình trạng thân nhân bị thiệt thòi chỉ vì yếu tố thủ tục hoặc hoàn cảnh tạm thời.

3.2. Các trường hợp nhân thân được hưởng trợ cấp tuất một lần

Theo khoản 2 điều 88 Luật bảo hiểm xã hội 2024, các đối tượng quy định tại khoản 1 nêu trên khi chết thân nhân được hưởng tiền tuất một lần trong các trường hợp sau đây:

- Không đủ điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 86 của Luật này

Điều 86. Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng

1. Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này khi chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thân nhân quy định tại khoản 2 Điều này được hưởng tiền tuất hằng tháng:

a) Có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên;

- Thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 86 của Luật này nhưng không có thân nhân hưởng tiền tuất hằng tháng quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật này

Điều 86. Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng

...

2. Thân nhân của đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, bao gồm:

a) Các con bao gồm cả con khi người mẹ đang mang thai mà người cha chết, con khi lao động nữ mang thai hộ đang mang thai mà người cha hoặc người mẹ nhờ mang thai hộ chết thì được hưởng đến khi đủ 18 tuổi;

b) Con bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

c) Vợ, chồng đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động. Vợ, chồng chưa đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

d) Cha đẻ, mẹ đẻ; cha đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc của chồng; thành viên khác của gia đình đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động mà người quy định tại khoản 1 Điều này đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình;

đ) Cha đẻ, mẹ đẻ; cha đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc của chồng; thành viên khác của gia đình chưa đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

- Thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật này nhưng có nguyện vọng hưởng trợ cấp tuất một lần

Điều 86. Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng

...

2. Thân nhân của đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, bao gồm:

a) Các con bao gồm cả con khi người mẹ đang mang thai mà người cha chết, con khi lao động nữ mang thai hộ đang mang thai mà người cha hoặc người mẹ nhờ mang thai hộ chết thì được hưởng đến khi đủ 18 tuổi;

b) Con bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

c) Vợ, chồng đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động. Vợ, chồng chưa đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

d) Cha đẻ, mẹ đẻ; cha đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc của chồng; thành viên khác của gia đình đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động mà người quy định tại khoản 1 Điều này đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình;

đ) Cha đẻ, mẹ đẻ; cha đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc của chồng; thành viên khác của gia đình chưa đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

- Trường hợp không có thân nhân quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật này thì trợ cấp tuất một lần được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Trong trường hợp này, do không tồn tại chủ thể đủ điều kiện hưởng chế độ tuất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nên khoản trợ cấp tuất một lần không được chi trả theo cơ chế thông thường của BHXH, mà được chuyển sang giải quyết theo pháp luật về thừa kế.

Như vậy, trợ cấp tuất một lần được áp dụng trong các trường hợp không phát sinh hoặc không được thực hiện chế độ trợ cấp tuất hằng tháng, hoặc khi thân nhân có nguyện vọng lựa chọn hưởng một lần; riêng trường hợp người chết không có thân nhân theo quy định của Luật thì khoản trợ cấp này được giải quyết theo pháp luật về thừa kế, bảo đảm quyền lợi tài sản và sự thống nhất giữa pháp luật bảo hiểm xã hội và pháp luật dân sự.

Kết luận

Trợ cấp tuất một lần là một chính sách mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, phản ánh trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và gia đình họ trước những biến cố không thể lường trước. Các quy định về điều kiện và đối tượng hưởng trợ cấp tuất một lần được xây dựng tương đối chặt chẽ, nhằm bảo đảm việc chi trả đúng người, đúng đối tượng và phù hợp với thực tế đời sống. Việc nắm vững các quy định này giúp thân nhân người lao động kịp thời thực hiện thủ tục hưởng quyền lợi, tránh bỏ sót hoặc hiểu sai chính sách. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để người lao động yên tâm làm việc, gắn bó lâu dài với hệ thống bảo hiểm xã hội. Trong bối cảnh an sinh xã hội ngày càng được chú trọng, trợ cấp tuất một lần tiếp tục khẳng định vai trò là điểm tựa tài chính và tinh thần, góp phần lan tỏa giá trị nhân văn và sự sẻ chia trong cộng đồng.

Chia sẻ:

Bài viết liên quan

 Copyright © 2026 Công ty Luật TNHH MTV Hoàng Thịnh Luật.
  • Online: 1
  • Hôm nay: 827
  • Tổng lượt truy cập: 1.666.933
  • Ngày giờ: 04:53:11 AM, 22/03/2026